Hệ thống xử lý nước thải thuộc da

Xử lý nước thải thuộc da

PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI THUỘC DA MỚI TỐI ƯU NHẤT

Ở Việt Nam, ngành công nghiệp thuộc da đang gặp không ít khó khăn. Hiện nay, nước ta có khoảng 35 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, lượng sản xuất ra chỉ đáp khoảng 40% nhu cầu trong nước. Theo các chuyên gia 2 vấn đề khó khăn đối với ngành thuộc gia là : nguyên liệu sản xuất và xử lý nước thải thuộc da.

Nước thải thuộc da nếu không được xử lý sẽ gây ảnh hưởng tới môi trường, hàm lượng chất hữu cơ cao làm giảm nồng độ oxi trong nước, ảnh hưởng tới môi trường thủy sinh xung quanh, lượng cặn gồm các thành phần như lông, thịt, vôi làm nước bị bẩn đục, các chất vô cơ trong nước thải có thể tạo thành các muối, làm tăng độ mặn, độ cứng, áp suất thẩm thấu, ảnh hưởng tới thủy sinh. Nhất thiết phải xử lý nước thải thuộc da trước khi xả ra môi trường.

I. Ảnh hưởng của ngành thuộc da đến môi trường và xã hội

Thuộc da là ngành sản xuất lâu đời trên thế giới và luôn gắn bó với ngành chăn nuôi gia súc và chế biến thịt. Nguyên liệu chính sử dụng cho công nghiệp thuộc là da động vật như da bò, cừu, da lợn, v.v… Với khái niệm thuộc da, có nghĩa làm thay đổi da động vật sao cho bền nhiệt, không cứng giòn khi lạnh, không bị nhăn và thối rữa khi ẩm và nóng. Tùy theo mục đích sử dụng mà da thuộc ở các điều kiện môi trường, công nghệ và hóa chất, chất thuộc khác nhau.

Phần lớn công nghệ thuộc da ở Việt Nam còn ở mức trung bình khá so với các công nghệ tiên tiến trên thế giới. Có một khoảng cách về trình độ công nghệ giữa các doanh nghiệp trong cả nước.

Ảnh hưởng của ngành thuộc da đến môi trường và xã hội
Ảnh hưởng của ngành thuộc da đến môi trường và xã hội

Mức tiêu thụ tài nguyên cho một tấn da nguyên liệu của các doanh nghiệp thuộc da trong nước vẫn cao hơn so với các nước khác cùng áp dụng công nghệ thuộc truyền thống. Nếu như lượng nước sử dụng tại Việt Nam là 35-40 m3/tấn da nguyên liệu thì mức tiêu hao này ở các nước trong khu vực Đông Nam Á chỉ là 30 m3/tấn.

Công nghiệp thuộc da Việt nam còn nhiều điểm hạn chế. Hoá chất phục vụ quá trình thuộc da là một trong các yếu tố quyết định chất lượng da thuộc mà hiện nay, ngành công nghiệp hoá chất trong nước chưa có khả năng cung ứng.

Các doanh nghiệp thuộc da phải nhập phần lớn hoá chất của nước ngoài, Bên cạnh đó, khả năng cập nhật, lựa chọn hoá chất mới phù hợp cho từng công đoạn còn hạn chế. Công nghệ và thiết bị chuyên dùng một phần còn ở mức độ trung bình, lạc hậu và không đồng bộ, đặc biệt là các cơ sở phía Bắc.

Mặc dù các cơ sở thuộc da đã được các hãng bán hoá chất hướng dẫn một số công nghệ mới trong quá trình sử dụng hoá chất của họ, nhưng kiến thức công nghệ còn rời rạc, thiếu cơ bản và tổng thể. Nguồn lao động trong ngành đa số còn chưa được đào tạo bài bản, chuyên ngành sâu, do đó sản phẩm da thuộc trong nước còn đơn điệu, chưa phong phú.

Thuộc da là ngành công nghiệp có phát thải gây ô nhiễm môi trường dưới cả 3dạng rắn, lỏng và khí. Chất hữu cơ không mong muốn như lông, mỡ, thịt…trong nguyên liệu ban đầu (da tươi, da muối) được loại bỏ cùng hóa chất dư thừa trong sử dụng (vô cơ và hữu cơ, đặc biệt là crôm III).

Sự phân hủy các chất hữu cơ có trong nguyên liệu ban đầu tạo mùi hôi thối đặc trưng cho khu vực sản xuất và khu vực xung quanh. Dung môi bay hơi và khí thải của nồi hơi cũng góp phần vào đặc trưng hiện trạng môi trường của ngành. Với nhu cầu của thị trường như vậy, xu thế phát triển ngành thuộc da trong trong lai là tất yếu.

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vấn đề còn tồn tại trong quá trình thuộc da, trong đó bao gồm cả các vấn đề tiêu tốn tài nguyên, sử dụng nguyên, nhiên liệu chưa đạt hiệu quả cao và các vấn đề ô nhiễm môi trường như công tác xử lý nước thải thuộc da

II. Quy trình sản xuất xuất ngành thuộc da

Hiện nay, tai Việt Nam đang tồn tại 3 công nghệ sản xuất như sau:

·        Công nghệ 1: Từ da muối hoặc da tươi đến da hòan thành. Tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc và miền Trung

·        Công nghệ 2: Từ công đoạn da muối hoặc da tươi đến da phèn (da wet-blue). Tập trung tại miền Nam

·        Công nghệ 3: Từ công đoạn da phèn đến da hòan thành. Tập trung tại miền Nam và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai.

Tuy nhiên công nghệ thuộc da gồm các quy trình chính như sau:

  • Bảo quản bằng cách ướp muối hay sấy khô, thông thường dùng phương pháp ướp.
  • Hồi tươi để lấy lại lượng nước đã mất trong quá trình bảo quản, thường sau hồi tươi lượng nước trong da chiếm từ 70 đến 80%.
  • Tẩy lông dùng vôi và natrisunfit Na2S với mục đích phân hủy các protein xung quanh chân lông làm cho chân lông lỏng ra, mềm đi và dễ tách ra khỏi da.
  • Xén diềm, nạo thịt bằng phương pháp cơ học để tách phần lông còn lại, diềm và thịt bạc nhạc, sau đó xẻ da và xén tỉa.
  • Làm xốp là tạo môi trường pH thích hợp để các chất thuộc dễ khuếch tán vào da và liên kết với các phân tử collagen.
  • Thuộc da dùng hóa chất thuộc như tannin và hợp chất crom vào da, cố định trong cấu trúc của collagen làm cho da không bị thối rữa và có những tính chất cần thiết phù hợp với mục tiêu sử dụng.
Quy trình sản xuất xuất ngành thuộc da
Quy trình sản xuất xuất ngành thuộc da

Thuộc crom đòi hỏi quá trình ngâm lâu hơn và quá trình làm mềm da ngắn hơn là thuộc tannin.Hóa chất thuộc là các muối crom III như Cr2(SO4)3 Cr(OH)SO4, Cr(OH)Cl2. Nồng độ muối crom trong dung dịch thuộc thường là 8%, tương ứng 25 ÷ 26% Cr2O3.

Môi trường thuộc có pH từ 2,5 ÷ 3; thời gian thuộc từ 4 đến 24h. Thuộc crom thường để sản xuất da mềm. Thuộc tannin thường để sản xuất da cứng. Thời gian thuộc tannin thường kéo dài vài tuần ( 3 đến 6 tuần, có khi đến vài tháng) tùy theo yêu cầu chất lượng da.

Da sau khi thuộc được ủ để cố định chất thuộc vào da và ép để tách nước. Sau đó được làm mềm bằng dầu động vật, ty để làm mất nếp nhăn, nén cho da phẳng và sấy cho da khô, tiếp theo da được đánh bóng và nhuộm bằng thuốc nhuộm để tạo màu theo yêu cầu sử dụng da.

III. Nguồn phát sinh, đặc tính nước thải của công nghệ thuộc da

III.1 Nguồn phát sinh nước thải trong quá trình thuộc da

Hầu hết các công đoạn trong công nghệ thuộc da là quá trình ướt, có nghĩa là có sử dụng nước. Định mức tiêu thụ nước khoảng 30 đến 70 m3 cho 1 tấn da nguyên liệu.

Lượng nước thải thuộc da thường xấp xỉ lượng nước tiêu thụ. Tải lượng, thành phần của các chất gây ô nhiễm nước phụ thuộc vào lượng hóa chất sử dụng và lượng chất được tách ra từ da.

Trong giai đoạn bảo quản, NaCl được sử dụng để ướp da sống, lượng muối sử dụng từ 100 đến 300 kg cho 1 tấn da sống. Khi thời tiết nóng ẩm có thể dùng muối Na2SiF6 để sát trùng. Nước thải của giai đoạn này là nước rửa da trước khi ướp muối, nước loại này chứa tạp chất bẩn, máu mỡ, phân động vật.

Trước khi đưa vào các công đoạn tiền xử lý, da muối được rửa để loại bỏ muối, các tạp chất bám vào da, sau đó ngâm trong nước từ 8 đến 12 h để hồi tươi da. Trong quá trình hồi tươi có thể bổ sung các chất tậy NaOCl, Na2CO để tẩy mỡ và duy trì pH = 7,5 ÷ 8,0 cho môi trường ngâm da.

Nguồn phát sinh nước thải trong quá trình thuộc da - Xử lý nước thải thuộc da
Nguồn phát sinh nước thải trong quá trình thuộc da – Xử lý nước thải thuộc da

Nước thải của công đoạn hồi tươi có màu vàng lục chứa các protein tan như albumin, các chất bẩn bám vào da và có hàm lượng muối NaCl cao. Do đó chứa lượng lớn các chất hữu cơ ở dạng tan và lơ lửng, độ pH thích hợp cho sự phát triển của vi khuẩn nên nước thải của công đoạn này rất nhanh bị thối rữa.

Nước thải thuộc da của công đoạn ngâm vôi và khử lông mang tính kiềm cao do môi trường ngâm da trong vôi để khử lông có độ pH thích hợp từ 11 đến 12,5. Nếu pH < 11 lớp keratin trong biểu bì và collagen bị thủy phân, còn nếu pH > 13 da bị rộp, lông giòn sẽ khó tách chân lông. Nước thải của công đoạn này chứa muối NaCl, vôi, chất rắn lơ lửng do lông vụn và vôi, chất hữu cơ, sunfua S2-.

Công đoạn khử vôi và làm mềm da có sử dụng lượng nước lớn kết hợp với muối (NH4)2SO4 hay NH4Cl để tách lượng vôi còn bám trong da và làm mềm da bằng men tổng hợp hay mên vi sinh.

Các men này tác động đền cấu trúc da, tạo độ mềm mại của da. Nước thải của công đoạn này mang tính kiềm, có chứa hàm lượng các chất hửu cơ cao do protein của da tan vào nước và hàm lượng nitơ ở dạng amon hay amoniac.

Trong công đoạn làm xốp, các hóa chất sử dụng là axit như axit axetic, axit sunfuric và axitformic. Các axit này có tác dụng chấm dứt hoạt động của enzyme, tạo môi trường pH = 2,8 ÷ 3,5 thích hợp cho quá trình khuếch toán chất thuộc vào da. Quá trình làm xốp thường gắn liền với công đoạn thuộc crom, Nước thải của công đoạn này mang tính axit cao.

Công đoạn thuộc có nước thải mang tính axit và có hàm lượng Cr3+ cao ( khoảng 100 đến 200 mg/l) nếu thuộc crom và BOD5 rất cao nếu như thuộc tannin (khoảng 2000 đến 6000 mg/l). Nước thải thuộc crom có màu xanh, còn nước thải thuộc tannin có màu tối, mùi khó chịu.

Nước thải thuộc da của các công đoạn ép nước, nhuộm, trung hòa, ăn dầu, hoàn thiện thường là nhỏ và gián đoạn. Nước thải chứa các chất thuộc, thuốc nhuộm và lượng dầu mỡ dư.

III.2 Đặc tính nước thải phát sinh trong quy trình thuộc da

Nước thải của cơ sở thuộc da nói chung có độ màu, chứa hàm lượng rắn TS, chất rắn lơ lửng SS, hàm lượng ô nhiễm các chất hữu cơ BOD cao. Các dòng thải mang tính kiềm là nước thải của công đoạn hồi tươi, ngâm vôi, khử lông.

Thông số ô nhiễm cần xử lý nước thải thuộc da
Thông số ô nhiễm cần xử lý nước thải thuộc da

Nước thải của các công đoạn làm xốp, thuộc mang tính axit. Ngoài ra nước thải thuộc da còn chứa sunfua, crom và dầu mỡ. Đặc trưng nước thải của nhà máy thuộc da là có mùi hôi thối, hàm lượng COD, BOD5, SS, Crôm, Cl- rất cao.

Như vậy, nước thải của cơ sở thuộc da nói chung có độ màu, chứa hàm lượng chất rắn TS, chất rắn lơ lửng SS, hàm lượng ô nhiễm các chất hữu cơ BOD cao. Các dũng thải mang tớnh kiềm là nước thải của công đoạn hồi tươi, ngâm vôi, khử lông. Nước thải của các công đoạn làm xốp, thuộc mang tính axit. Ngoài ra nước thải thuộc da cũn chứa sunfua, crom và dầu mỡ….

Nước thải thuộc da nhìn chung có mùi hôi thối, hàm lượng BOD, COD, TSS rất cao, đặc biệt trong nước thải có chứa kim loại Crôm, hàm lượng muối cao, pH thay đổi tại các nguồn khác nhau. Tất cả các thông số ô nhiễm trong nước thải thuộc da đều vượt tiêu chuẩn nước thải công nghiệp QCVN 40:2011/BTNMT, cột B nhiều lần. 

III. 3 Tác động của nước thải thuộc da đến môi trường

Nước thải thuộc da nếu không được xử lý sẽ gây tác động lớn tới nguồn tiếp nhận. Nước thải thuộc da chứa hàm lượng chất hữu cơ cao làm giảm hàm lượng oxy hòa tan trong nước, gián tiếp ảnh hưởng tới đời sống của các loài thủy sinh.

Nước thải thuộc da chứa hàm lượng chất rắn lơ lửng dạng vô cơ và hữu cơ cao gồm các thành phần vôi, lông, thịt làm dòng tiếp nhận bị vẩn đục và sa lắng ảnh hưởng đến các loài động vật sống như cá, các loài phù du đang tồn tại ở dòng sông.

Các muối vô cơ tan làm tăng độ mặn của nước, tăng áp suất thẩm thấu và độ cứng của nước, Màu tối của nước thải làm cho nguồn tiếp nhận có màu, làm giãm quá trình quang hợp của các loài rong, tảo.

Nước thải chứa crom dư ở dạng Cr3+ thường ít độc hơn Cr6+. Tuy nhiên Cr3+ có thể gây dị ứng ngoài da, làm sơ cứng động mạch. Sự có mặt của crom trong nước thải sẽ làm giảm hoạt động phân hủy chất hữu cơ của vi sinh vật. Nước chứa sunfua gây mùi, vị khó chịu và ngộ độc cho cá.

Nếu nước thải thuộc da ngấm vào đất sẽ làm đất trở nên cằn cỗi, kém màu mỡ do trong nước có chứa hảm lượng muối NaCl cao, mặt khác có ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước ngầm.

Vì vây việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải thuộc da là việc cần ưu tiên hàng đầu.

IV. Phương án công nghệ xử lý nước thải thuộc da tối ưu

Từ những phân tích, đánh giá mang tính cơ sở, Công ty TNHH Công nghệ Môi trường Hòa Bình Xanh đã nghiên cứu, thực nghiệm và đề xuất quy trình công nghệ xử lý nước thải thuộc da tối ưu đảm bảo thân thiện với môi trường và tiết kiệm chi phí

Quy trình xử lý nước thải thuộc da
Quy trình xử lý nước thải thuộc da

Thuyết minh sơ đồ công nghệ xử lý nước thải thuộc da:

Nước thải thuộc da được tách thành 2 dòng thải: dòng thải của các công đoạn sản xuất và dòng thải công đoạn thuộc crom để xử lý.

Đối với dòng nước thải thuộc da của các công đoạn sẽ đưa qua song chắn rác thô để loại bỏ thịt, mỡ rồi vào bể thu gom tập trung.

Đối với dòng thải chứa crom của các công đoạn thuộc da sẽ được dẫn qua song chắn rác thô để loại bỏ các rác thô có kích thước lớn rồi đưa về bể trộn, dd NaOH được châm vào để tạo kết tủa Cr(OH)3 và NaOH để tăng pH vì nước thải của công đoạn thuộc mang tính axit.

Sau khi quá trình kết tủa xảy ra, nước thải được dẫn qua bể lắng để lắng cặn kết tủa vừa hình thành, đồng thời Cr3+ cũng được loại bỏ. Phần bùn cặn được đưa về bể chứa bùn để xử lý. Phần nước thải thuộc da sau lắng được dẫn qua hố thu gom tập trung để xử lý.

Nước thải thuộc da từ hố thu gom tập trung được dẫn về bể điều hòa để ổn định lại lưu lượng và nồng độ các chất thải có trong nước thải. Tại bể điều hòa có đặt thiết bị sục khí để tránh xảy ra hiện tượng lắng cặn, phân hủy yếm khí dưới đáy bể.

Nước thải thuộc da sau khi ra khỏi bể điều hòa được dẫn qua bể tuyển nổi để tách dầu mỡ, cặn lơ lửng có trong nước thải ra khỏi dòng thải nhờ quá trình sục khí. Các bọt khí từ dưới đáy bể nổi lên kéo theo các hạt cặn bám dính trong bọt khí ra khỏi dòng thải.

Nước thải thuộc da sau khi ra khỏi bể tuyển nổi được dẫn về bể keo tụ tạo bông, hóa chất được cho vào bể giúp các hạt keo trong nước thải kết dính lại với nhau hình thành bông cặn có kích thước lớn và nặng hơn.

Nước thải sau khi hình thành bông cặn được dẫn qua bể lắng I để lắng bông cặn ra khỏi dòng thải nhờ quá trình trọng lực. Các bông cặn được lắng xuống dưới đáy bể và phần bùn cặn được dẫn qua bể chứa bùn để đem đi xử lý. Phần nước trong sau lắng được dẫn qua bể xử lý sinh học hiếu khí để xử lý các chất hữu cơ còn lại trong nước thải thuộc da.

Tại bể Aerotank, hệ thống sục khí giúp cung cấp đầy đủ oxi cho các vi sinh vật hiếu khí trong bể hoạt động. Các vi sinh vật hiếu khí phân giải các chất hữu cơ có trong nước thải thành các chất vô cơ đơn giản theo phản ứng sau:

VSV hiếu khí + CHC + O2 à CO2 + H2O + sinh khối mới

Nước thải thuộc da sau khi ra khỏi bể Aerotank được dẫn qua bể lắng sinh học để lắng phần bùn cặn vừa được hình thành. Một phần bùn cặn được dẫn qua bể chứa bùn để đem đi xử lý, một phần bùn được tuần hoàn lại bể Aerotank để đảm bảo mật độ vi sinh trong bể.

Nước trong sau lắng được dẫn qua bể khử trùng để tiêu diệt vi khuẩn có hại còn xót lại trong nước thải. Hệ thống xử lý nước thải thuộc da đầu ra sau xử lý đạt QCVN 40:2011/BTNMT.

V. DỊCH VỤ XỬ LÝ NƯỚC THẢI TẠI MỚI NHẤT 2021 – CÔNG TY HÒA BÌNH XANH

Bạn đang muốn xây dựng hệ thống xử lý nước thải thuộc da ? Bạn đang muốn tìm kiếm một nhà thầu chuyên nghiệp và uy tín ? Đừng lo ngại, Hòa Bình Xanh sẽ giúp bạn tận tình với những dịch vụ chuyên nghiệp nhất.

Công ty TNHH Công nghệ Môi trường Hòa Bình Xanh chuyên cung cấp những dịch vụ về nước thải hướng đến các tiêu chí như sau:

  • Tư vấn thiết kế thi công xây dựng hệ thống xử lý nước thải trên toàn quốc
  • Cung cấp các vật tư, thiết bị, hóa chất xử lý nước thải, nước cấp 
  • Doanh nghiệp đã có hệ thống xử lý nước thải, nhưng nước thải sau xử lý chưa đạt quy chuẩn hoặc thay đổi lưu lượng nước thải=> Công ty chúng tôi chuyên tư vấn, cung cấp các giải pháp cải tạo nâng cấp công suất của hệ thống xử lý nước thải.
  • Doanh nghiệp có hệ thống xử lý nước thải nhưng ít vận hành hoặc không có người đúng chuyên môn vận hành, dẫn đến thiết bị máy móc bị hư hỏng, vi sinh nuôi cấy trong bể sinh học bị sự cố cần tư vấn sửa chữa, nuôi cấy vi sinh, vận hành hệ thống xử lý nước thải hay liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ nhanh nhất đảm bảo hệ thống xử lý đạt yêu cầu khi có cơ quan kiểm tra.

Quý doanh nghiệp hãy liên hệ tới Công ty TNHH Công nghệ Môi trường Hòa Bình Xanh, Công ty chúng tôi với đội ngũ thạc sỹ, kỹ sư giàu kinh nghiệm đã đầu tư nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng các công nghệ xử lý và tìm các phương án xử lý chất lượng tốt nhất, chi phí hợp lý và thời gian nhanh nhất.

  • Với phương châm: ”Uy tín, chất lượng là hàng đầu” Hòa Bình Xanh mang đến cho quý khách hàng sản phẩm và dịch vụ tốt nhất, đáp ứng nhu cầu cần thiết của quý khách.
  • Quý khách hàng có công trình, dự án cần tư vấn, hãy goi ngay qua hotline 0906.840.903 để nhận được sự hỗ trợ nhanh nhất và tận tình nhất

Nhận xét bài viết!